Ngân hàng chỉ cung cấp thông tin về mở tài khoản, số tài khoản cùng mã số thuế cho cơ quan thuế

Anh Phan - 17/11/2018 13:11
(VNF) - Đại diện Tổng cục Thuế cho biết ngân hàng thương mại có trách nhiệm cung cấp thông tin tài khoản của khách hàng là người nộp thuế mở tại ngân hàng cho cơ quan quản lý thuế, chỉ bao gồm thông tin về mở tài khoản, số tài khoản cùng với mã số thuế của người nộp thuế.
1
Ngân hàng chỉ cung cấp thông tin về mở tài khoản, số tài khoản cùng mã số thuế cho cơ quan thuế. (Ảnh minh hoạ)

Trước việc có ý kiến đề nghị xem xét quy định ngân hàng thương mại cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản của người nộp thuế cho cơ quan quản lý thuế để tránh ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng, liên quan đến bảo mật thông tin của người nộp thuế, đại điện Tổng cục Thuế cho hay kế thừa quy định tại Luật Quản lý thuế về việc ngân hàng thương mại có trách nhiệm cung cấp thông tin về tài khoản, nội dung giao dịch qua tài khoản theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, dự thảo Luật đã hoàn thiện quy định này tại Khoản 2 Điều 27.

Theo đó ngân hàng thương mại có trách nhiệm cung cấp thông tin tài khoản của khách hàng là người nộp thuế mở tại ngân hàng cho cơ quan quản lý thuế, chỉ bao gồm thông tin về mở tài khoản, số tài khoản cùng với mã số thuế của người nộp thuế.

“Theo quy định của pháp luật thì cơ quan thuế đảm bảo giữ bí mật thông tin của người nộp thuế (trong đó có thông tin về tài khoản ngân hàng) là phù hợp với quy định của pháp Điều 14 Luật Các tổ chức tín dụng và pháp luật về an toàn thông tin mạng”, đại diện Tổng cục Thuế cho hay.

Đại diện Tổng cục Thuế cũng lý giải việc quy định cung cấp thông tin về số tài khoản của người nộp thuế là nhằm giảm thiểu thủ tục cho người nộp thuế, chia sẻ thông tin giữa cơ quan quản lý thuế và các bên liên quan theo cơ chế tự động. Cụ thể hiện nay đã có 51 ngân hàng ký kết với cơ quan thuế về việc chia sẻ thông tin, trong đó có 49 ngân hàng đã triển khai.

“Hiện cơ quan thuế đang quản lý cơ sở dữ liệu về tài khoản của hàng trăm nghìn doanh nghiệp nhưng chưa phát sinh trường hợp có ảnh hưởng đến việc bảo mật thông tin của ngân hàng”, vị đại diện thông tin.

Dẫn chứng thực tế từ kinh nghiệm quốc tế, đại diện Tổng cục Thuế cũng cho biết mẫu Luật Quản lý thuế của IMF (Quỹ tiền tệ quốc tế); Luật Quản lý thuế của Hungary và báo cáo của OECD về cải thiện quyền truy cập vào thông tin ngân hàng cho mục đích thuế, đa số các nước đều quy định các ngân hàng và tổ chức tài chính tín dụng có nghĩa vụ thông báo cho cơ quan thuế biết về việc mở các tài khoản của người nộp thuế cùng mã số thuế do cơ quan thuế cấp. Thậm chí một số nước còn yêu cầu việc báo cáo tự động đối với việc đóng mở tài khoản, số dư tài khoản tại thời điểm cuối năm cũng như tiền lãi trên tài khoản của người nộp thuế cho cơ quan thuế.

“Như vậy, nội dung quy định như dự thảo luật về nhiệm vụ, trách nhiệm của ngân hàng thương mại đã phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời đảm bảo việc trao đổi thông tin với cơ quan thuế các nước”, đại diện Tổng cục Thuế nhấn mạnh.

Liên quan đến vấn đề này, trước đó, thảo luận về dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi) chiều 15/11, đại biểu Phạm Thị Thu Trang (Quảng Ngãi) nhận định sau hơn 10 năm thực hiện, luật đã đạt được một số kết quả. Tuy nhiên, quản lý thuế hiện hành còn bất cập, cần sửa đổi.

Trong đó, bà Trang đặc biệt lưu ý ban soạn thảo cần cân nhắc quy định ngân hàng thương mại cung cấp thông tin tài khoản của khách hàng và người nộp thuế tại ngân hàng cho cơ quan quản lý thuế, bao gồm thông tin về mã tài khoản, số tài khoản cùng với mã số thuế của người nộp thuế, đồng thời cung cấp thông tin của người nộp thuế theo yêu cầu gồm thông tin giao dịch qua tài khoản, số tài khoản của người nộp thuế.

Theo bà Trang, quy định như trên là chưa phù hợp vì yêu cầu đảm bảo bí mật thông tin khách hàng là nguyên tắc bảo mật thông tin của ngân hàng, theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng.

Bà Trang dẫn quy định tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nhà nước, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản tiền gửi, tài sản gửi của khách hàng tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho tổ chức cá nhân khác trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật phải được sự chấp thuận của khách hàng.

Do vậy, nữ đại biểu nhấn mạnh cần có sự hài hòa giữa hai quy định này để không ảnh hưởng đến uy tín và hoạt động của ngân hàng, để tránh lạm dụng trong việc yêu cầu cung cấp thông tin, dẫn đến ngân hàng vi phạm pháp luật.

Từ đó, bà Trang đề nghị ban soạn thảo cần nghiên cứu quy định rõ trường hợp cung cấp thông tin, thẩm quyền yêu cầu cung cấp thông tin và đặc biệt phải quy định chặt chẽ việc khấu trừ tiền trong tài khoản để nộp thuế để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp về tài sản.